Giáo Dục

Thuyết minh về một tác giả văn học.


Đề bài: Thuyết minh về một tác giả văn học.

Câu trả lời:

Bài viết số 1: Thuyết minh về một tác giả văn học – Nguyễn Tuân

Sau Cách mạng, phong cách của ông vẫn là tài hoa uyên bác nhưng cũng có nhiều thay đổi rõ rệt. Vẫn là cách nhìn con người trên phương diện văn hóa nhưng không còn sự đối lập xưa và nay mà tìm được sự ấm áp của cuộc đời. Cái đẹp không chỉ có trong thời xưa cũ mà còn có trong thiên nhiên, đời sống lao động sản xuất và chiến đấu.

Bài làm

Trong lịch sử văn học văn học Việt Nam, có một cây bút được mệnh danh là “người suốt đời đi tìm cái đẹp”. Ông là cây bút tiên phong của nền văn học mới, là tác giả văn học nổi tiếng với phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác và độc đáo.

Nguyễn Tuân (1910-1987) quê ở Nhân Mục, thôn Thượng Đình, nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân – Hà Nội. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Thân sinh của Nguyễn Tuân là cụ Nguyễn An Lan, tú tài khoa thi Hán học cuối cùng. Cha ông là một nhà nho tài hoa bất đắc chí, là người có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng và phong cách Nguyễn Tuân.

Về cuộc đời, ông học đến cuối bậc thành chung thì bị đuổi vì tham gia cuộc bãi khoá phản đối mấy giáo viên người Pháp nói xấu người Việt Nam. Năm 1930, do “xê dịch” không có giấy phép qua Lào sang Thái Lan, ông vướng vào lao tù. Ra tù, ông bắt đầu nghiệp cầm bút bằng việc viết báo, viết văn. Tuy cầm bút từ sớm nhưng đến năm 1938 ông mới thực sự nổi tiếng với các tác phẩm tiêu biểu như một chuyến đi, Vang bóng một thời… Năm 1941, Nguyễn Tuân bị bắt giam lần 2 vì giao du với những người hoạt động chính trị. Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân trở thành một cây bút tiêu biểu hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến, giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam từ 1948-1958. Ông mất ngày 28/7/1987 tại Hà Nội. Với những đóng góp to lớn và có giá trị cho nền văn học nước nhà, năm 1996, ông được Nhà nước phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật.

Nguyễn Tuân là một trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Ông yêu tiếng mẹ đẻ, trân trọng những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, những kiệt tác văn chương trung đại, những lời ca tiếng hát của mỗi miền quê, các món ăn truyền thống, dân dã… Ý thức cá nhân ở ông phát triển rất cao. Ông quan niệm viết văn là để thể hiện cái tôi 1 cách kỳ cùng. Nguyễn Tuân rất mực tài hoa, uyên bác, thông hiểu sâu sắc khoa học nghệ thuật.

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Tuân thử bút ở nhiều thể loại truyện ngắn hiện thực trào phúng, thơ, nhưng mãi đến đầu năm 1938 mới nhận ra sở trường của mình và thành công với: Một chuyến đi (1938); Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941). Sự nghiệp của ông có thể chia làm hai chặng khá rõ rệt trước và sau Cách mạng tháng Tám từ một nhà văn lãng mạn chuyển thành nhà văn cách mạng.

Sự nghiệp cầm bút của ông chia làm nhiều giai đoạn nổi bật. Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân sáng tác xung quanh ba đề tài chính: “Chủ nghĩa xê dịch”, vang bóng một thời và đời sống tâm trạng bi quan của một cái tôi. Qua đó thể hiện cái tôi lãng tử, đi tìm và làm sống lại vẻ đẹp riêng của một thời xưa cũ với những phong tục văn hóa, những thú tiêu dao lành mạnh, tao nhã, gắn với những con người thuộc lớp nhà nho tài hoa bất đắc chí và tâm trạng khủng hoảng của lớp thanh niên đương thời. Nhưng đôi khi ở đó vẫn vút lên “niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao, được nâng đỡ trên đôi cánh của nghệ thuật”. Tác phẩm tiêu biểu nhất là “Vang bóng một thời”.

Sau Cách mạng, đề tài trong sáng tác của ông bao trùm bởi lòng yêu nước và sự bất mãn với chế độ thực dân. Sáng tác của ông trong thời kỳ này tập trung phản ánh hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân anh hùng, tài hoa trong chiến đấu và sản xuất. Tác phẩm Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972), Sông Đà (1960).

Tuy nhiên, dù ở giai đoạn nào, Nguyễn Tuân cũng có một phong cách nghệ thuật độc đáo thể hiện sự tài hoa uyên bác. Phong cách nghệ thuật của ông trước Cách mạng là duy mĩ. Ông trân trọng và đề cao cái đẹp. Với ông, cái đẹp chỉ tồn tại trong một thời xưa cũ, do vậy, ông đi tìm và làm sống dậy cái đẹp của thời xưa và phê phán, chối bỏ xã hội trên phương diện văn hóa. Ông cũng nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ, tập trung miêu tả những nhà nho tài hoa bất đắc chí, đứng cao hơn hoàn cảnh.

Các sáng tác của ông khi đó thể hiện lối viết tự do, phóng túng, vừa đĩnh đạc, cổ kính lại vừa trẻ trung, hiện đại. Không chỉ dùng vốn ngôn ngữ văn học phong phú, ông còn sử dụng hiểu biết về nhiều ngành nghệ thuật, khoa học khác như hội họa, điện ảnh, âm nhạc, quân sự, võ thuật… để gợi dựng hình tượng, đem đến người đọc nhiều liên tưởng thú vị.

Sau Cách mạng, phong cách của ông vẫn là tài hoa uyên bác nhưng cũng có nhiều thay đổi rõ rệt. Vẫn là cách nhìn con người trên phương diện văn hóa nhưng không còn sự đối lập xưa và nay mà tìm được sự ấm áp của cuộc đời. Cái đẹp không chỉ có trong thời xưa cũ mà còn có trong thiên nhiên, đời sống lao động sản xuất và chiến đấu. Chất tài hoa nghệ sĩ không chỉ có ở những con người đặc tuyển mà còn có ở đại chúng nhân dân, ngay trong nghề nghiệp của họ như anh bộ đội, chị dân quân, người lái đò sông Đà.

Đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Tuân đã tìm đến với thể loại tuỳ bút như một tất yếu và có công nâng tuỳ bút lên đỉnh cao.

Trong tùy bút của ông, yếu tố triết luận kết hợp trữ tình cho thấy được tâm hồn phóng túng, sức liên tưởng tưởng tượng bất ngờ, táo bạo của nhà văn. Ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân giàu có, đa dạng, một mặt thể hiện cảm xúc trữ tình của một cái tôi uyên bác mà trẻ trung, hiện đại; mặt khác thể hiện sự tinh tế, giàu cảm xúc thẩm mĩ, đầy chất thơ và khả năng tạo hình. Câu văn co duỗi nhịp nhàng.

Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời tìm kiếm và khẳng định cái đẹp, một định nghĩa về người nghệ sĩ. Ông có đóng góp to lớn cho quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt, đặc biệt là thể loại tuỳ bút. Ông xứng đáng là một nghệ sĩ lớn một nhà văn hóa lớn của dân tộc.

Bài viết số 2: Hãy giới thiệu về một tác giả văn học – Nguyễn Du

Thơ ông là tiếng nói trong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu

Bài làm

Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tức ngày 3/1/1866 ở kinh thành Thăng Long trong một gia đình quý tộc lớn. Thân sinh ông là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), làm quan đến tham tụng (tể tướng) tước Xuân quận công triều Lê. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng. 13 tuổi lại mồ côi mẹ, ông phải ở với người anh là Nguyễn Khản. Đời sống của người anh tài hoa phong nhã, lớn hơn ông 31 tuổi này rất có ảnh hưởng tới nhà thơ.

Sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông không màng để tâm đến công danh. Trái tim ông đau xót, buồn thương, phẫn nộ trước “những điều trông thấy” khi sống lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen và ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca.

Thơ ông là tiếng nói trong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ.

Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 giai đoạn. Thời gian sống ở Tiên Điền – Nghi Xuân đến 1802, ông viết “Thác lời trai phường nón Văn tế sống 2 cô gái Trường Lưu”. Đây là 2 bản tình ca thể hiện rất rõ tâm tính của ông, sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với con người.

Ba tập thơ chữ Hán thì “Thanh hiên thi tập” gồm 78 bài, viết lúc ở Quỳnh Côi và những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốn long đong, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, những sáng tác thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40 bài đầy cảm hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất.

Truyện Kiều được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết “Truyện Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luận đề “Chánh học và tà thuyết” giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của 2 phía cùng luận chiến.

Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thị dân, Truyện Kiều còn được tầng lớp trên say mê đọc, luận. Vua Minh Mạng là người đầu tiên đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại cho đời sau. Đến đời Tự Đức, nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện Kiều ở văn đàn, ở Khu Văn Lâu.

Ngày nay, Truyện Kiều vẫn đang được các nhà xuất bản in với số lượng lớn, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao Truyện Kiều. Dịch giả người Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch Truyện Kiều đã viết bài nghiên cứu dài 96 trang, có đoạn viết: “Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào”. Ông so sánh với văn học Pháp: “Trong tất cả các nền văn chương Pháp không một tác phẩm nào được phổ thông, được toàn dân sùng kính và yêu chuộng bằng quyển truyện này ở Việt Nam”. Và ông kết luận: “Sung sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm độc nhất vô nhị đã làm rung động và ca vang tất cả tâm hồn của một dân tộc”. Năm 1965 được Hội đồng Hoà bình thế giới chọn làm năm kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.

Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều. Đọc Truyện Kiều ta thấy xã hội, thấy đồng tiền và thấy một Nguyễn Du hàm ẩn trong từng chữ, từng ý. Một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du chan chứa nhân ái, hiểu mình, hiểu đời, một Nguyễn Du nóng bỏng khát khao cuộc sống bình yên cho dân tộc, cho nhân dân.

Bài viết số 3: Văn mẫu thuyết minh về một tác giả văn học – Nguyễn Trãi

Thơ văn Nguyễn Trãi thể hiện đầy đủ và trọn vẹn phong cách và rõ nét con người Nguyễn Trãi. Đó là một anh hùng kiệt xuất về khí phách hùng tâm tráng trí nhưng đó cũng là con người trần thế với nỗi niềm sâu thẳm, với những rung động tinh tế. Nguyễn Trãi xứng đáng là người chúng ta tôn vinh và ngưỡng mộ

Bài làm

Các tác giả văn học luôn là niềm tự hào của nên văn học Việt Nam bởi đã đem đến cho dân tộc những tác phẩm hay ý nghĩa được coi là kiệt tác của nền văn học. Một trong số đó chúng ta không thể không kể đến Nguyễn Trãi nhà văn hóa vĩ đại, nhà văn chính luận kiệt suất. Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai sinh năm 1380 quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang sau dời làng Ngọc Ổi, trấn Sơn Nam Thượng, huyện Thượng Phúc. Thân phụ là Nguyễn Ứng Long vốn là học trò nghèo, thi đỗ Thái học sinh. Thân mẫu là Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán dòng dõi quý tộc. Năm 21 tuổi, Nguyễn Trãi đỗ thái học sinh thứ hai khoa Canh Thìn năm 1400 dưới triều Hồ. Tuy làm chức Ngự Sử đài chính chương ở đời Hồ Hán Thương năm 1401- 1407 nhưng mẩu đời chính trị này không được bao lâu, nên không có dấu vết gì in trên sử sách. Nguyễn Trãi sống dưới thời đại đầy biến động dữ dội. Nhà Trần suy vi, Hồ Quý Li lên thay, lập ra nhà Hồ. Khí thi đỗ thái học sinh cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Phi Khanh đều làm quan cho nhà Hồ. Nhưng chẳng bao lâu quân Minh sang cướp nước ta, chúng bắt cha con Hồ Quý Li cùng các triều thần sang Trung Quốc trong đó có Nguyễn Phi Khanh. Tương truyền lúc ấy, Nguyễn Trãi muốn giữ tròn đạo hiếu, đã cùng em trai sang Trung Quốc nhưng bị cha ngăn lại. Cha dặn phải tìm cách rửa nhục cho đất nước, ông đã trở về và bị bắt giữ ở Đông Quan. Nguyễn Trãi bỏ trốn, tìm theo Lê Lợi dâng Bình Ngô sách và được Lê Lợi tin dùng. Từ đó ông trở thành một quân sư số một của Lê Lợi. Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn cùng Lê Lợi bàn mưu tính kế, giúp Lê Lợi soạn các bài văn thư, chiếu lệnh, góp công lớn vào sự nghiệp giải phóng đất nước. Sau khi đuổi xong giặc Minh, Nguyễn Trãi chưa kịp thực hiện hoài bão xây dựng đất nước thái bình, thịnh trị, vua dân hòa mục như ông hằng mong ước, thì cuộc đời chuyển sang giai đoạn khó khăn và bi thảm. Sau thắng lợi một năm, đầu năm 1429 Lê Lợi nghi ngời Trần Nguyên Hãn mưu phản, sai quân bắt tội, khiến vị danh tướng này phải nhảy xuống sông tự vẫn. Sau đó Nguyễn Trãi cũng bị bắt. Sau khi được tha ông không còn được tin dùng nữa. Suốt mười năm chỉ được giao chức “nhàn quan” không có thực quyền. Ông xin về ở ẩn ở Côn Sơn nhưng chỉ mấy tháng sau vua Lê Thái Tông lại vời ông ra làm việc nước. Nguyễn Trãi đang hi vọng một thời cơ mới thì thật không may, chỉ ba năm sau một thảm họa đã giáng xuống. Vụ án Lệ Chi Viên, vụ án quan lớn nhất trong lịch sử Việt Nam đã cướp đi sinh mệnh, khiến ông mãi mãi không còn cơ hội thực hiện hoài bão. Nguyễn Trãi có sự nghiệp văn chương đồ sộ đa dạng phong phú. Ông viết rất nhiều nhưng sau vụ án Trại Vải nhiều tác phẩm của ông đã bị bè lũ quân thần đem đi tiều hủy. Phần còn lại ngày nay do người hồi ấy ghi chép lại. Đặc biệt một di bản của Ức Trai được đánh giá cao “văn chương đức nghiệp”. Phần lớn văn Nguyễn Trãi viết bằng chữ Nôm. Nhưng sự nghiệp văn chương vẫn còn một phần thơ tiếng việt. Tác phẩm viết bằng chữ Hán gồm văn xuôi và thơ. Về văn chính luận tiêu biểu là Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo và một số bài chiếu. Về lịch sử gồm Lam Sơn thực lục, Vĩnh Lăng thần đạo bi. Về thơ thì gồm Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập. Đây là tập thơ Nôm xưa nhất của Việt Nam. Nguyễn Trãi là người đặt nền móng cho văn học chữ Nôm Việt Nam. Và còn Chí Linh sơn phú và Băng Hồ di sư lục.. Nôi dung trong thơ văn Nguyễn Trãi cũng vô cùng giàu nhân đạo. Ông là một người có tư tưởng lớn. Đó là tư tưởng nhân nghĩa là vì dân, yêu dân, trọng dân và ơn dân. Có lí tưởng đạo đức yêu thương dân phải đối xử khoan dung với kẻ thù. Đó là tư tưởng yêu nước, ý thức về độc lập tự do của dân tộc, cùng khát vọng về đất nước hào bình nhân dân có cuộc sống ấm no. Thơ ca Nguyễn Trãi còn biểu hiện nhân cách đẹp của một nhà nho chân chính. Với mong muốn tâm nguyện được cống hiến cho đất nước cho nhân dân. Đó là khi thời loạn Nguyễn Trãi xa dời những bon chen cám dỗ. rũ bỏ danh lợi để bảo toàn nhân cách và sự thanh sạch của tâm hồn. Nhân cách của Nguyễn Trãi là nhân cách của bậc thầy quân tử, ở ông có cái kiên trung cứng cỏi của cây tùng, có thiết thanh của cây trúc, tiết sạch của cây mai. Thơ văn ông là tâm hồn, nỗi niềm của chính mình. Tình cảm sâu nặng với quê hương tha thiết với thiên nhiên và với thế sự sâu sắc. Thơ văn Nguyễn Trãi thể hiện đầy đủ và trọn vẹn phong cách và rõ nét con người Nguyễn Trãi. Đó là một anh hùng kiệt xuất về khí phách hùng tâm tráng trí nhưng đó cũng là con người trần thế với nỗi niềm sâu thẳm, với những rung động tinh tế. Nguyễn Trãi xứng đáng là người chúng ta tôn vinh và ngưỡng mộ

Bài viết số 4: Bài văn thuyết minh về một tác giả văn học – Xuân Diệu

Ảnh hưởng từ luồng văn hóa phương Tây, ông thường có những từ ngữ mới lạ như “Những luồng run rẩy rung rinh lá”. Thơ của ông thường là sự tương giao mạnh mẽ giữa các giác quan “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”. Thi sĩ Xuân Diệu đã thực sự thổi vào thơ ca Việt Nam một luồng gió mới mát mẻ hơn, tươi sáng hơn.

Bài làm

Cuộc đời người nghệ sĩ gắn với lúc thăng lúc trầm, lúc được yêu thương, khi lại bị ghét bỏ. Nhưng trên hết, nghệ thuật của họ còn ở lại với đời mãi ngàn năm sau, người ta sẽ vẫn nhắc đến những người nghệ sĩ ấy để ngưỡng mộ, biết ơn. Chúng ta sẽ chẳng thể không nhắc đến Xuân Diệu như một nghệ sĩ lớn của dân tộc, người đã dìu dắt thơ ca qua cả những bước thăng trầm!

Xuân Diệu sinh năm 1916 và mất năm 1985, tên thật là Ngô Xuân Diệu, có khi lấy bút danh là Trảo Nha, chính là tên làng của vùng đất quê ông. Cha ông là người Hà Tĩnh nhưng ông lại lớn lên ở vùng đất Quy Nhơn. Chính vì vậy, mà trong ông có cái cần cù ham học của người dân Hà Tĩnh, cũng lại dạt dào cả nắng và gió của vùng biển Quy Nhơn. Chính quê hương đã trở thành yếu tố quan trọng làm nên hồn thơ Xuân Diệu. Ông là con của một nhà nho, được học tập trong môi trường của văn hóa Pháp. Vì vậy, thơ ông vẫn giữ được những nét cổ điển ngàn đời của Việt Nam, nhưng lại mang đậm làn gió phương Tây mới lạ. Đây chính là bước đệm để Xuân Diệu trở thành ‘nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới’. Chính ông cũng đã phải thừa nhận:

“Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine

Hai chàng thi sĩ đắm hơi men”

Xuân Diệu phát triển sự nghiệp rực rỡ nhất trong những 30-45 của thế kỉ XX. Đó là khi thơ ca bước vào công cuộc đổi mới, cái tôi cá nhân được đề cao hơn bao giờ hết. Với hai tập “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”, Xuân Diệu trở thành một nhà thơ trữ tình lớn, được Hoài Thanh ưu ái gọi với cái tên “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới”. Tham gia vào Tự lực văn đoàn, Xuân Diệu như một chủ soái của phong trào thơ Mới. Sự nghiệp của ông còn được đánh dấu bằng truyện ngắn “Phấn thông vàng”, tác phẩm “Trường ca” và một loạt các phê bình lí luận văn học. Để lại cho đời cả một kho tàng văn học đồ sộ, Xuân Diệu đã tự kí thác cuộc đời mình vào sự vĩnh viễn của thời gian. Khi cách mạng nổ ra, Xuân Diệu trở về thực hiện nghĩa vụ của công dân, tích cực tham gia kháng chiến và giữ nhiều chức vụ quan trọng. Thành quả của ông đã được ghi nhận bằng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, là lời khẳng định cho một tài năng lớn.

Nói về thơ Xuân Diệu, Trần Đăng Khoa dùng ba chữ “tài hoa, tinh tế, sang trọng”. Thơ của ông ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn học phương Tây, đặc biệt là Pháp, từ cả nội dung cảm hứng đến hình thức thơ. Chính vì vậy mà Xuân Diệu thường có những phát hiện rất mới trong thơ của mình. Ông thường quan niệm, thời gian tuyến tính, một đi không trở lại. Bởi vậy, ông luôn tiếc nuối thời gian, tuổi trẻ đã qua. Có một thi sĩ đứng giữa mùa xuân mà lòng ngậm ngùi:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Không chỉ là thời gian, điều ông tiếc nuối hơn cả chính là tuổi trẻ. Đối với ông, con người trong thì tươi, thì xanh là đẹp đẽ nhất, đáng sống nhất. Tuổi trẻ qua đi nghĩa là đời người cũng chẳng còn nữa:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Quan niệm ấy ảnh hưởng mạnh mẽ từ tư tưởng của phương Tây: “Ôi đau đớn, thời gian ăn cuộc đời”

Khác với các nhà thơ cùng thời trốn tránh thực tại, Xuân Diệu yêu thiết tha mảnh đất trần thế, ông tìm được vẻ đẹp tươi xanh nên trần gian này. Thi sĩ ấy luôn khát khao sống cho cho hưởng thụ được vẻ đẹp của cuộc đời:

Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn

Làm dây da quấn quýt cả mình xuân

Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần

Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất

Có lẽ chỉ đến với Xuân Diệu, ta mới được hưởng thụ một cặp mắt nhìn đời xanh non biếc rờn như vậy. Không chỉ yêu đời, chàng thi sĩ ấy còn luôn muốn đắm mình vào tình yêu, khát khao yêu được đáp trả lại. Thật không sai khi người ta gọi Xuân Diệu là “ông hoàng của thơ tình”:

Yêu, là chết ở trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?

Nói về đặc sắc nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu, ta không thể không nhắc đến những sáng tạo về mặt từ ngữ của ông. Ảnh hưởng từ luồng văn hóa phương Tây, ông thường có những từ ngữ mới lạ như “Những luồng run rẩy rung rinh lá”. Thơ của ông thường là sự tương giao mạnh mẽ giữa các giác quan “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”. Thi sĩ Xuân Diệu đã thực sự thổi vào thơ ca Việt Nam một luồng gió mới mát mẻ hơn, tươi sáng hơn.

Ngoài thơ ca, Xuân Diệu cũng đã đến với truyện ngắn và phê bình như một duyên cớ. Truyện ngắn “Phấn thông vàng” của ông đánh dấu cho một tài năng viết truyện ngắn sắc sảo tinh tế. Người ta cũng biết đến Xuân Diệu với “Ba đại thi hào dân tộc”, “Tiếng thơ”, “Dao có mài mới sắc”,… Chính ông đã từng khẳng định: “Nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết.”. Và đúng thật, Xuân Diệu dùng thơ văn của mình vượt cả thời gian và không gian.

Thời gian rồi sẽ trôi qua, nhưng vẫn sẽ có một Xuân Diệu ở phía sau tâm hồn mỗi con người. Chàng thi sĩ ấy đã giữ trọn trái tim người đọc mộ

Bài viết số 5: Bài mẫu thuyết minh về một tác giả văn học – Đỗ Phủ

Đất nước điêu linh, nhân dân lầm than, nhưng triều đình vẫn liên tục phát động chiến tranh để mở mang bờ cõi. Đỗ Phủ đã đứng về phía những người dân bị bắt phu bắt lính, cất tiếng nói lên án chiến tranh phi nghĩa. Những bài thơ có thể kể đến là “Binh sa hành”, “Tiền xuất tái”, “Hậu xuất tái” để châm biếm bọn tướng tá lấy việc chinh phạt để tiến thân.

Bài làm

Một trong những nền văn học có ảnh hưởng lớn nhất đến thơ ca Việt Nam thời phong kiến và cả sau này chính là thơ Đường. Đường thi- nơi nảy nở của biết bao bông hoa văn học, nơi tỏa sáng của những tài năng nghệ thuật có một không hai mà những nghệ sĩ đời sau vẫn phải thán phục và học hỏi. Và nhắc đến thơ Đường, một nhà thơ không thể không nhắc đến, đó chính là Thi Thánh Đỗ Phủ.

Đỗ Phủ sinh năm 712, mất năm 770, người tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình quý tộc, tự cho là dòng dõi vua Nghiêu đã sa sút. Cha ông tên Đỗ Nhàn, mẹ là Thôi thị xuất thân từ gia tộc danh giá Thanh Hà Thôi thị. Là con trai của một học giả, quan lại bậc thấp, thời trẻ ông được tiếp xúc với nền giáo dục Trung Hoa từ nhỏ

Trong suốt cuộc đời của mình, tham vọng lớn nhất của Đỗ Phủ là có được một chức quan để giúp dân giúp nước, nhưng ông đã không thể thực hiện được điều này. Những năm từ 730 đến 755, ông đã nhiều lần đi thi nhưng đều bị đánh hỏng hoặc chỉ làm những chức quan nhỏ, không thỏa được chí lớn. Ông đã có 10 năm sống nghèo khổ ở Trường An để hiểu và thấu hết những nỗi thống khổ và cơ cực của những người nhân dân ở lớp dưới. Cuộc đời ông, không thoát khỏi thời mà ông đang sống, bị điêu đứng vì Loạn An Lộc Sơn năm 755, và 15 năm cuối đời ông là khoảng thời gian hầu như không ngừng biến động. Rơi vào cảnh túng quẫn, ông đã phải gửi thư xin sự giúp đỡ của người quen. Bệnh tật và đi lưu lạc tứ phương, cuối cùng thi nhân lại chết trên một con thuyền rách nát.

Thơ của Đỗ Phủ thấm máu và nước mắt của nhân dân thời buổi loạn ly. Nếu trong thơ Lý Bạch có dòng sông hát ca, chim muông ríu rít, vầng trăng duyên dáng thì trong thơ Đỗ Phủ dòng sông nức nở, vầng trăng thổn thức và chim muông, cỏ cây câm lặng, úa vàng. Người đời gọi thơ ông là một tập Thi sử (một bộ sử viết bằng thơ). Đọc những tác phẩm của ông, chúng ta có thể thấy được những nét chính của đời sống chính trị, xã hội đời Đường trước và sau loạn An Sử. Trước loạn An Sử (755 – 763) thực trạng phổ biến là thói ăn chơi xa dọa, dâm đãng của vua quan và chiến tranh bành trướng xâm lược. Nhà thơ lớn của nhân dân đã cùng nhịp thở với trăm họ, đứng ở vị trí của những nạn nhân mà cất lên tiếng kêu không thể kìm nén được. Bài thơ “Lệ nhân hành” của ông đã miêu tả chân thực cảnh yến tiệc linh đình của chị em Dương Quý Phi cùng với các vương tôn công tử bên bờ sông. Ở đó, đũa làm bằng sừng tê ngưu, thức ăn là bướu lạc đà. Kèn sáo vang động cả quỷ thần mà họ không buồn nghe, thức ăn quý do bếp nhà vua dâng họ không buồn gắp. Giọng thơ đều đều như khách quan mà không giấu được uẩn ức. Những câu thơ nổi tiếng của ông trong bài “Tự kinh đô phó Phụng Tiên” (Từ kinh đô về huyện Phụng Tiên) được nhân dân truyền tụng như:

“Chu môn tửu nhục xú

Lộ hữu đống tử cốt

Vinh khô chỉ xích dị

Trù trướng nan tái thuật”

(Cửa son rượu thịt ôi

Ngoài đường đầy xác chết

Sướng khổ cách gang tấc

 Quặn lòng không nói được)

Đất nước điêu linh, nhân dân lầm than, nhưng triều đình vẫn liên tục phát động chiến tranh để mở mang bờ cõi. Đỗ Phủ đã đứng về phía những người dân bị bắt phu bắt lính, cất tiếng nói lên án chiến tranh phi nghĩa. Những bài thơ có thể kể đến là “Binh sa hành”, “Tiền xuất tái”, “Hậu xuất tái” để châm biếm bọn tướng tá lấy việc chinh phạt để tiến thân. Thay cho tiếng nói của hàng vạn sinh linh, Đỗ Phủ cất tiếng chất vấn nhà vua:

“Mỗi nước có biên thuỳ

Chỉ cần chặn xâm lược

Tàn sát để làm chi?”

Loạn An Sử nổ ra, triều đình phải mất 8 năm mới dẹp yên được. Nhân dân rơi vào cảnh lầm than, điêu đứng. Hai hiện tượng phổ biến trong những năm tháng loạn ly này là cảnh bắt lính, bắt phu và cảnh chia ly thê thảm. Những tác phẩm tiêu biểu của ông thời kì này có chùm thơ “Tam lại” (viết về cảnh nha lại bắt lính, bắt phu), chùm thơ “Tam biệt” (nói về cảnh ly biệt giữa đôi vợ chồng già giữa đôi vợ chồng trẻ và giữa một người lính già với ngôi nhà bị phá rụi), bài “Nha lại bắt lính ở Thạch Hào” (Thạch Hào lại) vẽ nên một cảnh tượng điển hình: Nha lại chờ lúc mọi người ngủ say để xông vào nhà bắt lính. Nhà thơ tự nén mình trước tiếng khóc uẩn ức của xóm làng, nhân dân trong những ngày “đêm trường dạ tối tăm trời đất”. Bài “Tân hôn biệt” (Cuộc chia ly của đôi vợ chồng trẻ mới cưới) là hình ảnh thê thảm của người vợ trẻ:

“Cưới chiều hôm, vắng sớm mai

Duyên đâu lật đật cho người dở dang.”

Gọi thơ ông là Thi sử bởi vì cái ấn tượng binh đao khói lửa nội chiến mà thơ ông gieo vào lòng người còn sâu sắc gấp trăm lần các bộ sách viết về thời này.

Nhưng Đỗ Phủ không hề “viết sử” một cách khách quan. Ông đã đứng hẳn về phía “dân đen”, coi nỗi đau của họ như nỗi đau của chính mình, ước mong san sẻ gánh năng cơm áo và dằn vặt tâm linh với họ. Tư tưởng nhân đạo của Đỗ Phủ là đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo dưới thời phong kiến. Bài “Mao ốc vi thu phong sở phá ca” thể hiện rõ nhân cách của ông. Trong cảnh màn trời chiếu đất trên con đường chạy loạn, dựng được túp lều tranh cũng bị gió đánh sập, ông đau đớn cho thân phận mình nhưng cũng không quên nghĩ đến những “hàn sĩ” như mình:

“Ước gì có được ngôi nhà vạn gian

Che cho kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ, ai nấy đều hân hoan.”

Trong bài “Hựu trình Ngô lang” (Lại nhắn người họ Ngô), ông thể hiện cái nhìn hiện thực sắc sảo của mình qua chiêm nghiệm: ăn trộm là do nghèo đói, nghèo đói là do thuế khoá, chiến tranh.

Như vậy, có thể thấy, Đỗ Phủ đã cùng nhịp thở với nhân dân của mình trước vận nước và trong cảnh đói nghèo, loạn ly. Ông viết về mọi đề tài. Và mỗi bài thơ ông viết không có bài nào thoát ly khỏi thời cuộc. “Đỗ Phủ là nhà thơ chính trị vĩ đại nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc”.

Khác với Lý Bạch – nhà thơ lãng mạn, ngòi bút Đỗ Phủ luôn bám chặt vào cuộc đời. Lương Khả Siêu khẳng định: ông là nhà thơ “tả thực chi tiết”. Ông là người “đã thống nhất trong tác phẩm của mình những nét tiêu biểu mà người trước mới chỉ đề cập riêng lẻ”. Đỗ Phủ còn là người tài nghệ trong mọi phong cách thơ Trung Quốc. Ở bất cứ hình thức nào ông đều mang lại những tiến bộ vượt bậc hay đóng góp những ví dụ mẫu mực. Ông lại đặc biệt chú trọng ngôn từ thơ ca, chủ trương “ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu” (lời thơ không làm người ta kinh hoàng thì chết không nhắm mắt). Thơ ông có phạm vi sử dụng từ vựng rộng lớn, từ cách nói trực tiếp và thông tục cho đến cách nói bóng và ngôn ngữ văn chương. Nội dung chính trong thơ đã thay đổi khi ông phát triển phong cách của mình để thích hợp với hoàn cảnh xung quanh.. Do vậy thơ ông gieo vào lòng người đọc ấn tượng sâu sắc về cuộc sống, về nỗi cơ cực của nhân dân, về số phận “gian nan khổ hận” cùng cảnh ngộ với “dân đen” của chính ông.

Ảnh hưởng của Đỗ Phủ đến đời sau rất sâu sắc. Về nhân cách, ông dạy con người luôn luôn đồng cam cộng khổ với nhân dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Về sáng tác thơ ca: thành công của nhà thơ tùy thuộc vào vốn sống của nhà thơ, vào độ chính trong quá trình chiếm lĩnh hiện thực. Về tài năng thơ ca, một tài năng siêu việt được Nguyễn Du tôn làm bậc thầy của văn chương muôn thuở. Sự nổi tiếng của Đỗ Phủ lớn tới mức có thể đo được, như trường hợp của Shakespeare ở Anh. Mỗi nhà thơ Trung Quốc đều khó có thể không bị ảnh hưởng từ ông: Mối quan tâm của Bạch Cư Dị tới dân nghèo, lòng yêu nước của Lục Du hay các phản ánh cuộc sống hàng ngày của Mai Nghiêu Thần là những dẫn chứng tiêu biểu.

Trước Đỗ Phủ không có “Đỗ Phủ”, sau “Đỗ Phủ” cũng không thể tìm kiếm được một Đỗ Phủ thứ hai. Đó là vị Thi Thánh còn sống mãi trong lịch sử văn học Trung Hoa và thế giới

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
You cannot copy content of this page